Ngày xửa ngày xưa, ở một làng quê nọ, có anh Khoai hiền lành, chăm chỉ, đi làm thuê cho một phú ông. Anh cày ruộng, cho trâu ăn, gánh lúa về nhà. Sáng sớm tinh mơ đã ra đồng, tối mịt mới về, mà chưa bao giờ kêu ca một tiếng.
Phú ông có cô con gái rất quý anh Khoai. Cô thích nghe anh vừa làm vừa huýt sáo, thích nhìn anh vỗ về con trâu thật dịu dàng. Phú ông biết vậy, liền bảo: "Khoai à, con chịu khó làm cho ta ba năm. Nếu hai đứa vẫn thương nhau, ta gả con gái cho."
Anh Khoai mừng lắm, càng làm chăm hơn. Ba năm trôi qua. Nhưng phú ông lại hơi tham, tiếc tiền làm đám cưới, lại muốn giữ anh Khoai làm không công thêm nữa. Ông bèn nghĩ ra một việc thật khó.
"Khoai này," phú ông nói, "muốn làm đám cưới thì con vào rừng tìm cho ta một cây tre trăm đốt. Chín mươi chín đốt cũng không được nhé. Phải đủ một trăm đốt!"
Anh Khoai vác dao vào rừng. Anh đếm cây này: một, hai, ba... có bốn mươi đốt. Đếm cây kia: năm mươi đốt. Tìm mãi, tìm mãi, cả ngày chẳng thấy cây nào đủ trăm đốt. Anh ngồi xuống tảng đá, thở dài: "Biết làm sao bây giờ?"
Bỗng có một ông cụ râu tóc bạc phơ hiện ra. Đó là ông Bụt. Bụt hỏi: "Con làm sao mà ngồi thở dài thế?" Anh Khoai kể hết đầu đuôi.
Bụt cười hiền: "Con chặt đủ một trăm khúc tre, mỗi khúc một đốt, xếp thành hàng. Rồi con đọc: Khắc nhập, khắc nhập! là chúng dính lại với nhau."
Anh Khoai làm theo. Anh xếp một trăm khúc tre thẳng hàng rồi đọc to: "Khắc nhập, khắc nhập!" Tách, tách, tách! Các khúc tre nhảy lên, nối vào nhau, cạch, cạch, cạch, thành một cây tre dài thật là dài, đủ một trăm đốt! Cây tre dài quá, chẳng lọt qua được hàng cây. Bụt cười khà khà: "Giờ con đọc: Khắc xuất, khắc xuất! là chúng rời ra." Anh đọc, tách, tách, tách, cây tre lại rời thành từng khúc, bó gọn gàng vác lên vai.
Về đến nhà, phú ông trố mắt: "Ơ, về rồi à? Làm gì có cây tre trăm đốt!"
Anh Khoai xếp các khúc tre ra giữa sân, đọc: "Khắc nhập, khắc nhập!" Tách, tách, tách! Cạch, cạch, cạch! Một cây tre trăm đốt xanh mướt dựng lên giữa sân.
Phú ông tròn mắt: "Không thể nào!" rồi đưa tay sờ thử. Anh Khoai chưa kịp nói "Khoan đã!", thì phép "khắc nhập" vẫn còn. Bụp! Tay phú ông dính nhẹ vào cây tre, như chiếc lá dính vào mật ong. Chẳng đau chút nào cả. Ông lắc lắc tay, cây tre cũng lắc lắc theo. Lắc lư, lắc lư, lúc lắc.
Cả sân im phăng phắc, không ai cười chê gì. Phú ông đứng yên, tay vẫn dính cây tre, và bắt đầu nghĩ ngợi: "Thằng Khoai làm lụng vất vả ba năm trời. Mình đã hứa, thế mà lại tìm cách nuốt lời. Thế là không phải."
Ông nhìn anh Khoai, nói nhỏ nhẹ: "Khoai ơi, ta xin lỗi con. Ta đã tham lam, không giữ lời hứa. Con là người thật thà, chăm chỉ. Con tha lỗi cho ta nhé."
Anh Khoai cười: "Dạ, con không giận đâu ạ." Rồi anh đọc: "Khắc xuất, khắc xuất!" Tách! Tay phú ông rời ra, cây tre cũng rời thành từng khúc gọn gàng.
Phú ông cười khà khà, vui vẻ hẳn lên. Ngay tuần ấy, ông làm đám cưới linh đình cho anh Khoai và con gái, mời cả làng tới ăn xôi, ăn chè, nghe hát. Còn một trăm khúc tre ấy à? Anh Khoai đem về rào một cái hàng rào xinh xắn quanh vườn nhà mới, một trăm khúc tre đứng thẳng hàng, đẹp ơi là đẹp.
Mẹo cho ba mẹ: Ba mẹ cho bé cùng hô "Khắc nhập, khắc nhập!" và "Khắc xuất, khắc xuất!", chập hai tay vào rồi tách ra theo câu thần chú.
Hỏi bé: Kể xong, ba mẹ có thể hỏi: “Trong truyện, ai là người tốt bụng, và bạn ấy đã làm gì?”
Đây là bản kể lại nhẹ nhàng, tay phú ông chỉ dính nhẹ, không ai chê cười, và câu chuyện kết thúc bằng lời xin lỗi và sự tha thứ.