Ngày xửa ngày xưa, ở vùng đất bên sông Hồng, có một năm trời hạn hán rất lâu. Ruộng lúa nứt nẻ, mương máng đầy bùn và cỏ dại. Bà con ai cũng mệt, mỗi nhà làm một góc, chẳng ai rủ ai, nên việc đồng áng cứ chậm ơi là chậm.

Dưới lòng hồ lớn gần kinh thành, có cụ Rùa Vàng sống đã lâu lắm rồi. Mai cụ óng ánh như nắng sớm. Cụ nhìn những cánh đồng khô mà thương, nghĩ bụng: "Bà con cần một chút ánh sáng, một chút can đảm, để cùng nắm tay nhau làm việc." Cụ bèn xin Long Vương cho mượn một thanh gươm thần.

Một hôm, bác đánh cá tên là Lê Thận ra sông quăng lưới. Xoạt! Lưới bung ra. Tõm! Lưới chìm xuống nước. Kéo lên, chẳng có con cá nào, chỉ có một lưỡi gươm sáng loáng. Bác thả xuống sông, quăng lại. Xoạt, tõm... lại là lưỡi gươm ấy. Lần thứ ba, vẫn lưỡi gươm ấy! Bác Lê Thận bật cười: "Thôi được, đã muốn theo ta về nhà thì ta mang về vậy."

Còn ở trong rừng xa, có một người hiền lành tên là Lê Lợi đang đi đường. Qua kẽ lá, ông thấy trên ngọn cây đa có cái gì lấp lánh. Ông trèo lên thật cẩn thận, thì ra là một cái chuôi gươm nạm ngọc. Khi hai người gặp nhau, đem lưỡi gươm tra vào chuôi, cạch một cái, vừa như in. Trên lưỡi gươm hiện hai chữ "Thuận Thiên", nghĩa là "theo ý trời".

Lê Lợi giơ gươm lên. Thanh gươm không phải để đánh ai cả. Nó chỉ tỏa sáng, ấm áp như ngọn đèn. Ánh sáng chiếu tới đâu, bà con ngẩng đầu lên tới đó, mặt mày tươi tỉnh hẳn ra. Lê Lợi nói: "Bà con ơi, mình cùng nhau khơi mương đi. Mình cùng nhau gánh nước đi." Thế là ai cũng ra đồng: ông bà, ba mẹ, anh chị, cả các em bé lon ton xách giỏ.

Nhờ ánh gươm soi đường, mọi người làm cả khi trời đã tối. Lê Lợi dùng gươm phát những đám dây leo chằng chịt chắn ngang dòng suối, phựt, phựt, phựt. Nước lại chảy róc rách, róc rách vào ruộng. Rồi trời đổ mưa, lộp độp, lộp độp. Lúa lên xanh mơn mởn, rồi chín vàng óng. Mùa gặt năm ấy, cả vùng rộn ràng tiếng cười tiếng hát.

Một ngày mùa xuân, khi thóc đã đầy bồ, nhà nhà no ấm, Lê Lợi ngồi thuyền rồng dạo chơi trên hồ. Mặt hồ phẳng lặng như tấm gương. Bỗng cụ Rùa Vàng nhô lên cạnh thuyền, mai lấp lánh dưới nắng.

Cụ Rùa nói, giọng hiền từ: "Long Vương cho ông mượn gươm để giúp dân. Nay bà con đã biết đồng lòng, đất nước đã yên vui. Xin ông hoàn lại gươm cho Long Vương nhé."

Lê Lợi cúi đầu: "Cảm ơn cụ Rùa, cảm ơn Long Vương đã cho mượn gươm quý." Ông nâng thanh gươm bằng hai tay, trao cho cụ. Cụ Rùa ngậm lấy gươm thật nhẹ nhàng, lượn một vòng quanh thuyền, rồi lặn xuống, xuống, xuống sâu dưới làn nước xanh. Một đốm sáng vàng le lói dưới đáy hồ, rồi tắt dần.

Từ đó, người ta gọi hồ ấy là Hồ Hoàn Kiếm, tức là hồ trả gươm, hay còn gọi là Hồ Gươm. Bây giờ hồ vẫn nằm ngay giữa lòng Hà Nội, giữa hồ có Tháp Rùa nho nhỏ. Ai ngồi yên bên hồ, lắng nghe gió thổi, có khi lại tưởng tượng thấy cụ Rùa Vàng đang nằm nghỉ dưới đáy nước, vui vì món quà đã được trả lại kèm một lời cảm ơn.

Mẹo cho ba mẹ: Ba mẹ rủ bé cùng làm tiếng quăng lưới "xoạt, tõm", rồi hỏi bé sẽ nói lời cảm ơn cụ Rùa Vàng như thế nào.

Hỏi bé: Kể xong, ba mẹ có thể hỏi: “Trong truyện, ai là người tốt bụng, và bạn ấy đã làm gì?”

Đây là bản kể lại nhẹ nhàng, không có chiến tranh hay đánh nhau, thanh gươm chỉ tỏa sáng giúp bà con nên không có gì đáng sợ.